Thứ Tư, ngày 07 tháng 10 năm 2015

“NỖI NIỀM” CÀ PHÊ ARABICA ĐÀ LẠT TRÊN CON ĐƯỜNG “XUẤT NGOẠI”

Cà phê Arabica (cà phê chè) Đà Lạt, Lâm Đồng vừa được “ông lớn” Starbucks (Mỹ) công nhận là 1 trong 7 loại cà phê ngon trên thế giới và được bày bán trong hệ thống cửa hàng của tập đoàn này trên toàn cầu. Đây là tín hiệu vui cho cà phê Đà Lạt nói riêng và ngành cà phê Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, điều nghịch lý đã và đang xãy ra là diện tích của loại cà phê này ngày càng thu hẹp và có nguy cơ xóa sổ. Trước nguy cơ ... “mất bò” nói trên thì chính quyền địa phương mới tính chuyện “làm chuồng”!
Sau 140 năm “nhập cư” và hai lần “xuất ngoại”
Ở độ cao trên 1.500m so với mặt nước biển, có nhiều vùng đồi dốc thoải cùng khí hậu mát mẻ với nền đất đỏ bazan, Cầu Đất (xã Xuân Trường, TP Đà Lạt, Lâm Đồng) là vùng đắc địa, lý tưởng nhất cho giống cà phê Arabica phát triển và sản sinh ra hạt cà phê Arabica có chất lượng được đánh giá ngon nhất nhì thế giới.  Chính vì vậy mà cách đây 140 năm, người Pháp đã “thấy” được điều này và  đã đưa giống cà phê Arabica sang trồng nơi đây.


Những trái cà phê này sẽ "xuất ngoại" trong thời gian tới
Cụ Lê Văn Thọ (85 tuổi, ngụ xã Xuân Trường) nhớ lại: “Cách đây khoảng 60 năm, lúc tôi làm công nhân đồn điền cho người Pháp đã nghe nói đến loại cà phê này. Khi ấy, người Pháp thu hoạch cà phê ở Đà Lạt rồi chế biến tại chỗ, đóng gói gắn nhãn hiệu “Arabica du Tonkin” chuyển đi phục vụ giới thượng lưu, quý tộc và xuất khẩu sang nhiều nước. Còn với người bình thường thì hầu như không ai được biết đến hương vị loại cà phê ở Cầu Đất này”.
Nhưng đó chỉ qua lời kể của ông Thọ và những người cao niên tại vùng đất này mà thôi. Mới đây, sản phẩm cà phê rang xay Arabica Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng) chính thức vươn ra thế giới thông qua hệ thống cửa hàng Starbucks (Mỹ) là tin vui với ngành cà phê Việt Nam. Trước đó, tập đoàn chuyên kinh doanh cà phê lớn nhất thế giới này chỉ chọn 6 địa phương ở Indonesia, Kenya, Rwanda, Brazil, Colombia và Guatemala làm nhà cung cấp cà phê Arabica. Đây là lần đầu tiên một loại cà phê Arabica trồng tại VN được Starbucks chọn để cung cấp với giá mỗi kg đã rang kèm hương liệu gần 50 USD (trên một triệu đồng). Đáng chú ý hơn, sản phẩm này lại không được sử dụng trong hệ thống Starbucks tại VN mà chỉ được bán duy nhất ở thị trường Mỹ và được xếp vào dòng sản phẩm cao cấp.
...Và nguy cơ bị xóa sổ!
Theo tìm hiểu của chúng tôi, sở dĩ nông dân không còn mặn mà với cà phê Arabica là do giá cả bấp bênh, sản lượng thấp.  Bên cạnh đó, cà phê Arabica  dễ bị sâu bệnh tấn công hơn các loại cà phê cũng như cây trồng khác nên khiến cho nông dân quay lưng với loại cậy làm nên “lịch sử” trồng này.


Nhưng vườn cà phê Arabica còn sót lại
Ông Trương Diên Tỵ (64 tuổi), xã Xuân Trường (TP Đà Lạt) – nơi trồng nhiều cà phê Arabica bậc nhất tỉnh Lâm Đồng hiện tâm sự, thuở còn thơ, ông đã theo cha rong ruổi nhiều nơi trong tỉnh làm thuê để kiếm sống. Đến năm 10 tuổi ông cùng cha bóm trụ lại vùng đất này. Chỉ tay về những cánh đồi bạc ngàn cà phê ông nói: “Những ngày sau giải phóng khu này toàn là cà phê Arabica, nhưng so với các loại cây trồng khác hiểu quả kinh tế thấp hơn cho nên phần lớn diện tích đất trồng cà phê Arabica  của người dân nơi đây và gia đình ông lúc này cũng nhanh chóng chuyển đổi sang trồng loại cây trồng khác để cải thiện đời sống”.

Đến nay, loại cà phê “ngon số 1 thế giới” vẫn hiện diện trên vùng đất Cao Nguyên nhưng diện tích ngày càng bị thu hẹp đến mức báo động. Theo Chi cục Thống kê TP Đà Lạt, hiện tổng diện tích cà phê ở TP Đà Lạt chỉ còn hơn 3.400 ha (chủ yếu là cà phê Arabica, được phân bố tại 3 xã Xuân Trường, Trạm Hành và Tà Nung) trong tổng số 140.000 ha cà phê của tỉnh. Theo nhận định của cơ quan này, diện tích và sản lượng cà phê Arabica Đà Lạt vẫn tiếp tục sụt giảm nhẹ theo từng năm, do nhiều người chặt bỏ bớt cây cà phê Arabica để chuyển đổi sang các loại cây khác cho thu nhập ổn định hơn.
Ông Hà Phước Ta, Bí thư  xã Xuân Trương  (Đà Lạt) cho biết: “Trong những năm gần đây, do hiệu quả kinh tế mang lại không cao hơn so với một số cây trồng khác, sâu bệnh diễn biến phức tạp nên nhiều hộ dân đã phá bỏ vườn cà phê Arabica để trồng loại cây khác. Do vậy, chỉ trong 5 năm, diện tích cà phê Arabica của xã giảm khoảng 300 ha, chỉ còn khoảng 1.000 ha”.

Còn ông Lê Thìn, Chủ tịch Hội Nông dân xã Xuân Trường (TP Đà Lạt) lo lắng, “Đã đến lúc chính quyền địa phương các cấp cần tìm giải pháp để giúp nông dân trồng  cà phê Arabica có thu nhập ít nhất cũng bằng trồng các loại cấy khác. Nếu như hiện nay, bà con sẽ chuyển dần diện tích cà phê Arabica sang trồng những loại cây khác có giá trị kinh tế hơn thì cây cà phê Arabica đứng trước nguy cơ bị xóa sổ”!
Trươc nguy cơ “mất bò” - Chính quyền tính chuyện... “làm chuồng”!
Ngay sau khi có thông tin Starbucks đưa cà phê Đà Lạt vào hệ thống, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành kế hoạch phấn đấu đến năm 2020, địa phương sẽ có khoảng 30.000 ha cà phê Arabica trong tổng diện tích 140.000 ha cà phê của toàn tỉnh. Theo ông Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng, địa phương này đang nỗ lực triển khai nhiều biện pháp nhằm biến khu vực Nam Tây Nguyên trở thành một trong những vùng sản xuất cà phê Arabica ngon nhất thế giới, ông S nhấn mạnh: “Xét về mọi mặt, Lâm Đồng là địa phương hội tụ đầy đủ các yếu tố để có thể biến giấc mơ nêu trên thành hiện thực: là tỉnh có diện tích cà phê lớn thứ hai cả nước – sau Đắk Lắk, là địa phương sở hữu một vùng đất có cây cà phê Arabica chất lượng cao nhất VN. Ngoài việc quy hoạch có định hướng diện tích cà phê Arabica Đà Lạt thì việc xây dựng thương hiệu, ứng dụng công nghệ chế biến sau thu hoạch và ngăn ngừa lạm dụng hóa chất trong sản xuất cũng sẽ được tỉnh Lâm Đồng quan tâm”.


Nông dân thu hoạch cà phê 
Sự sốt xắng của lãnh đạo chính quyền địa phương là điều dễ hiểu nhưng có một thực tế là chỉ khi đứng trước nguy cơ mất thương hiệu thì những nhà quản lý, những nhà làm quy hoạch mới cảm thấy” tiếc”. “Con cá mất bao giờ cũng là con cá to”, có thể trong tương lai, cà phê Đà Lạt sẽ mang lại nhiều giá trị cho địa phương, tạo thêm thu nhập cho người nông dân, nhưng có một điều chắc chắn rằng, việc xây dựng và phát triển thương hiệu cà phê Đà Lạt sẽ rất khó khăn.
Mà khó khăn trước mắt đã xuất hiện từ những người nông dân, như cụ ông Trương Diên Tỵ đã trăn trỡ khi chúng tôi nói đến chuyện chính quyên địa phương sẽ triển khai phát triển mạnh cà phê Arabica tại địa phương, ông nói: “Nghe người ta nói 1kg cả triệu đồng đâu không thấy chứ nông dân bán ra cũng hơn cà phê các loại vài ngàn đồng, mà sản lượng bằng thì chỉ bằng một nửa các loại cà phê khác thì nông dân cũng không nặm mà để trồng lại cà phê Arabica đâu, trừ khi Nhà nước có phương án hỗ trợ thỏa đáng và tìm đầu ra ổn định thì nông dân mới yên tâm chuyển đổi trồng lại cà phê Arabica”.
... Và bài học từ các loại nông sản khác.
Cùng với cà phê Arabica Cầu Đất, thời gian qua, nhiều loại nông sản khác của Việt Nam như: Vải, thanh long, chôm chôm, xoài, nhãn... cũng bắt đầu được các thị trường lớn và khó tính như Mỹ, Nhật, EU chấp nhận. Điều này không chỉ góp phần nâng cao uy tín của nông sản Việt mà còn là dịp thuận lợi để các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản. Với sức tiêu thụ lớn, giá bán cao, các thị trường mới hứa hẹn sẽ nâng cao giá trị, đồng thời hóa giải điệp khúc “làm ra nhưng không biết bán cho ai” hoặc “được mùa, mất giá” của nông sản Việt. Đó là tín hiệu vui đối với nhiều doanh nghiệp và nông dân.
Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui vẫn còn không ít nỗi lo, bởi việc tận dụng cơ hội để nông sản Việt vươn xa trên thị trường quốc tế vẫn còn là thách thức không nhỏ. Bởi thời gian qua, có không ít mặt hàng nông sản của Việt Nam dù đã được thị trường nước ngoài chấp nhận nhưng không thể duy trì và phát triển. Mà một trong những nguyên nhân mấu chốt phải kể tới công tác quảng bá, xúc tiến thương mại mặt hàng nông sản ra thị trường quốc tế chưa được chú trọng, nguồn cung chưa ổn định, giá cả thiếu tính cạnh tranh, chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về mẫu mã, chất lượng, xuất xứ nguồn gốc sản phẩm, kiểm dịch....
Vi vậy, để có thể tận dụng tốt cơ hội trên thì đòi hỏi cần có sự hợp tác, hỗ trợ chặt chẽ hơn nữa giữa Nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu và người sản xuất trong các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng vùng nguyên liệu; quản lý chất lượng sản phẩm; công tác kiểm dịch, bảo quản và đóng gói sản phẩm; chiến lược giữ và mở rộng thị phần. Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục có thêm chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác quảng bá, xúc tiến thương mại; đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động xuất khẩu; ưu đãi về thuế; hỗ trợ kỹ thuật... nhằm không ngừng “nâng tầm” nông sản Việt, đồng thời giúp cho hoạt động xuất khẩu nông sản tăng cả về sản lượng lẫn giá trị.


Lê Kiên